Nợ công và thâm hụt ngân sách: ai trả hoá đơn và trả bằng cách nào
Mỗi khoản thâm hụt hôm nay là một hoá đơn gửi tới tương lai. Bài viết giải thích ai trả nợ công, vì sao lãi suất so với tăng trưởng là phép tính quyết định, và vì sao chính trị nghiêng về vay mượn.

Nợ công của Mỹ vượt mốc 38 nghìn tỷ USD vào tháng 10 năm 2025, chỉ khoảng hai tháng sau khi chạm 37 nghìn tỷ. Cùng thời điểm, Việt Nam ước tính nợ công cuối năm 2025 chỉ quanh 35 đến 36% GDP, thấp xa trần cho phép. Hai con số kể hai câu chuyện khác nhau, nhưng câu hỏi nền tảng thì giống nhau: khi nhà nước tiêu nhiều hơn thu, ai sẽ là người trả hoá đơn, và trả bằng cách nào?
Thâm hụt và nợ: dòng chảy và cái hồ
Hai khái niệm hay bị dùng lẫn. Thâm hụt ngân sách là khoản chi vượt thu trong một năm, tức một dòng chảy. Nợ công là tổng số tiền nhà nước đang nợ, là cái hồ tích luỹ từ các năm thâm hụt trước đó. Một chính phủ có thể giảm thâm hụt mà nợ vẫn tăng, chỉ là tăng chậm hơn.
Ở Việt Nam, nợ công theo luật gồm nợ Chính phủ, nợ được Chính phủ bảo lãnh và nợ của chính quyền địa phương. Theo Nghị quyết 23/2021/QH15 về kế hoạch tài chính quốc gia giai đoạn 2021 đến 2025, trần nợ công là 60% GDP với ngưỡng cảnh báo 55%, trần nợ Chính phủ là 50% GDP, và nghĩa vụ trả nợ trực tiếp của Chính phủ không quá 25% tổng thu ngân sách.

Ba cách để trả một món nợ công
Nhà nước chỉ có ba cách xử lý nợ, mỗi cách chuyển gánh nặng sang một nhóm khác nhau.
- Thuế trong tương lai. Vay hôm nay nghĩa là đánh thuế ngày mai. Người trả là người nộp thuế ở thế hệ sau, những người không có phiếu bầu khi khoản vay được quyết định.
- Tăng trưởng. Nếu kinh tế lớn nhanh hơn lãi suất phải trả, tỷ lệ nợ trên GDP có thể giảm mà không cần thặng dư lớn. Đây là kịch bản dễ chịu nhất, nhưng không thể ra lệnh cho nó.
- Lạm phát. Khi ngân hàng trung ương in tiền mua nợ của chính phủ, giá trị thực của món nợ bị bào mòn. Người trả là người giữ tiền mặt và tiết kiệm, qua một loại thuế không cần Quốc hội thông qua. Mối quan hệ giữa ngân sách và in tiền được bàn kỹ trong bài ngân hàng trung ương làm gì.
Ký ức về lạm phát phi mã của Việt Nam giữa thập niên 1980, khi bội chi ngân sách được bù bằng phát hành tiền, là minh chứng gần gũi cho cách thứ ba.
Phép tính quyết định: lãi suất so với tăng trưởng
Động thái nợ có thể viết gọn: tỷ lệ nợ năm sau bằng tỷ lệ nợ năm nay nhân với (1 + r) / (1 + g), cộng thâm hụt cơ bản (chưa tính lãi) tính theo % GDP, trong đó r là lãi suất danh nghĩa bình quân và g là tăng trưởng GDP danh nghĩa. Bảng dưới đây, tính bằng python, xuất phát từ mức nợ 35% GDP và chạy 10 năm.
| Kịch bản | Lãi suất r | Tăng trưởng danh nghĩa g | Thâm hụt cơ bản mỗi năm | Nợ sau 10 năm |
|---|---|---|---|---|
| Tăng trưởng nhanh, chi tiêu kỷ luật | 5% | 9% | 1% GDP | 32,6% GDP |
| Tăng trưởng nhanh, chi tiêu dễ dãi | 5% | 9% | 3% GDP | 49,6% GDP |
| Lãi suất bằng tăng trưởng | 6% | 6% | 1% GDP | 45,0% GDP |
| Lãi suất vượt tăng trưởng | 8% | 5% | 2% GDP | 69,2% GDP |
Hai bài học rút ra. Thứ nhất, tăng trưởng cao là tấm đệm mạnh, nhưng không đủ che chắn cho chi tiêu dễ dãi: cùng điều kiện r và g, nâng thâm hụt cơ bản từ 1% lên 3% GDP làm nợ tăng từ 35% lên gần 50% trong một thập kỷ. Thứ hai, khi lãi suất vượt tăng trưởng, nợ tự nhân lên như lãi kép ngược, và mức 35% có thể vượt 60% GDP trong mười năm.
Với Việt Nam, kế hoạch năm 2026 dự kiến tổng nhu cầu vay của Chính phủ khoảng 969.796 tỷ đồng, tăng gần 19% so với kế hoạch 2025. Riêng tiền lãi phải trả khoảng 117.400 tỷ đồng, và nghĩa vụ trả nợ trực tiếp chiếm khoảng 20 đến 21% thu ngân sách. Tỷ lệ nợ thấp chưa có nghĩa là gánh nặng trả nợ nhẹ.

Lấn át đầu tư tư nhân
Khi chính phủ vay nhiều trong nước, nó cạnh tranh với doanh nghiệp để giành cùng một nguồn tiết kiệm. Lãi suất bị đẩy lên, hoặc tín dụng bị phân bổ ưu tiên cho khu vực công, và một số dự án tư nhân có hiệu quả không còn được tài trợ. Hiện tượng này gọi là lấn át. Nó đặc biệt đáng lo khi đồng tiền vay được dùng cho chi thường xuyên thay vì đầu tư sinh lời. Cơ chế lãi suất, đầu tư và tiết kiệm được trình bày trong bài về lãi suất và tăng trưởng.
Robert Barro, trong bài “Are Government Bonds Net Wealth?” năm 1974, còn đưa ra một lập luận sắc hơn, thường gọi là tương đương Ricardo: nếu người dân biết khoản vay hôm nay là thuế ngày mai, họ sẽ tiết kiệm thêm để chuẩn bị, và kích thích bằng vay nợ có thể không làm tăng tổng cầu. Thực tế không hoàn toàn như vậy vì nhiều người không nhìn xa đến thế, nhưng ý tưởng nhắc rằng vay nợ không phải bữa trưa miễn phí.
Lựa chọn công cộng: vì sao thâm hụt có xu hướng kéo dài
Nếu vay nợ có chi phí rõ ràng, vì sao chính phủ khắp nơi thâm hụt nhiều năm liền? James Buchanan và Richard Wagner trả lời trong cuốn Democracy in Deficit năm 1977. Theo họ, chính sách tài khoá kiểu Keynes trên lý thuyết là cân xứng, thâm hụt khi suy thoái và thặng dư khi bùng nổ. Nhưng trong chính trị thực, chi tiêu đem lại phiếu bầu ngay, còn thuế và cắt giảm đem lại phản đối. Kết quả là thiên lệch có hệ thống về phía thâm hụt. Buchanan nhận giải Nobel kinh tế năm 1986 cho các đóng góp vào lý thuyết lựa chọn công cộng.
Hệ quả chính sách là đề xuất ràng buộc thể chế: trần nợ, quy tắc ngân sách cân bằng qua chu kỳ, khung tài khoá trung hạn công khai. Trần nợ công của Việt Nam là một dạng ràng buộc như vậy. Giảm thuế mà không giảm chi, như phân tích trong bài về đường cong Laffer, cũng chỉ là đẩy hoá đơn sang tương lai.
Giới hạn của lập luận chống vay nợ
- Nợ cao chưa chắc làm chậm tăng trưởng. Năm 2010, Carmen Reinhart và Kenneth Rogoff công bố nghiên cứu cho thấy tăng trưởng giảm mạnh khi nợ vượt 90% GDP. Năm 2013, Thomas Herndon, Michael Ash và Robert Pollin phát hiện lỗi bảng tính và cách loại dữ liệu, sau khi sửa thì tăng trưởng bình quân của nhóm nợ cao là 2,2% chứ không phải âm 0,1%. Không có ngưỡng thần kỳ. Tuy vậy, mối tương quan nghịch giữa nợ cao và tăng trưởng vẫn còn trong nhiều nghiên cứu khác, chỉ yếu hơn.
- Vay để đầu tư có thể tự trả nợ. Một con đường cao tốc tốt làm tăng năng suất và thu ngân sách tương lai. Đúng, với điều kiện dự án được chọn kỹ, chi phí không đội lên và không bị thất thoát. Lựa chọn công cộng cho thấy đó là điều kiện khó.
- Trong suy thoái sâu, thắt lưng buộc bụng có thể phản tác dụng. Cắt chi đột ngột khi tổng cầu đang sụp có thể làm GDP giảm mạnh hơn và tỷ lệ nợ tăng. Lập luận này có trọng lượng, nhưng nó đòi hỏi chính phủ thực sự tiết kiệm khi kinh tế tốt, điều hiếm khi xảy ra.
Vay nợ không xoá bỏ chi phí của chi tiêu công, nó chỉ quyết định ai trả và khi nào trả.
Ban biên tập
Câu hỏi thường gặp
Nợ công bao nhiêu phần trăm GDP thì nguy hiểm?
Không có ngưỡng chung. Mức chịu đựng phụ thuộc vào lãi suất, tốc độ tăng trưởng, cơ cấu kỳ hạn, tỷ trọng nợ ngoại tệ và uy tín của chính phủ.
Nợ công Việt Nam hiện ở mức nào?
Theo các báo cáo được dẫn trên báo chí tài chính năm 2025 và 2026, nợ công cuối năm 2025 ước khoảng 35 đến 36% GDP, giảm từ khoảng 44% năm 2020. Mức này thấp hơn nhiều so với trần 60% GDP của giai đoạn 2021 đến 2025.
In tiền để trả nợ có gì sai?
Nó chuyển gánh nặng sang người giữ tiền qua lạm phát, một loại thuế ngầm không qua bàn nghị sự. Khi dùng lâu dài, nó phá huỷ niềm tin vào đồng tiền.
Kết luận
Nợ công không xấu tự thân, nhưng nó luôn là một lời hứa đánh thuế, in tiền hoặc tăng trưởng trong tương lai. Câu hỏi quan trọng là đồng tiền vay được tiêu vào đâu, và thể chế có đủ mạnh để chống lại xu hướng thâm hụt kéo dài hay không. Lưu lại bài viết về nợ công và thâm hụt ngân sách để đọc lại khi cần.